ĐẠI HỌC THỜI CHIẾN (Kí ức của cựu sinh viên K11 Khoa Cầu Đường, Trường Đại học Xây dựng)
- Trang chủ
- ›
- Tổ chức đoàn thể
- › Cựu sinh viên
- ›
- ĐẠI HỌC THỜI CHIẾN (Kí ức của cựu sinh viên K11 Khoa Cầu Đường, Trường Đại học Xây dựng)
Đêm 29 tháng 6 năm 1966 học sinh Thăng Long – Bắc Lệ lưu luyến tạm biệt ngôi trường tranh tre nứa lá thân yêu ra ga Bắc Lệ lên tàu về Hà Nội sau khi kết thúc năm học cuối của hệ phổ thông 10 năm. Đó là một ngày không thể nào quên vì cũng đúng vào hôm ấy, trưa ngày 29 tháng 6 – máy bay Mỹ chia nhiều tốp ném bom đánh phá tổng kho xăng Đức Giang – Yên Viên. Đám cháy dữ dội sáng rực cả một góc trời đêm làm mọi người tỉnh ngủ khi tàu đi qua ga Yên Viên lúc rạng sáng.
Được về với gia đình sau thời gian vừa học vừa làm trên lâm trường Hữu Lũng – Lạng Sơn chúng tôi thấy thoải mái nhưng vẫn ngóng từng ngày chờ giấy gọi nhập học. Khắc khoải chờ đợi, đếm từng ngày cho đến cuối tháng 8 năm ấy, tôi nhận được giấy gọi nhập học trường Đại học Xây dựng.
Lúc ấy, trường Đại học Xây dựng đang sơ tán về các huyện Thuận Thành, Gia Lương, Quế Võ tỉnh Hà Bắc (là hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang hợp thành). Tuy chỉ cách Hà Nội có bốn năm chục cây số nhưng đã đủ xa do đường xá, phương tiện đi lại khó khăn. Không biết bao lâu mới về nhà được nên ai cũng phải chuẩn bị đầy đủ hành trang gọn nhẹ lên đường. Cồng kềnh nhất vẫn là cái mền bông (ruột chăn bông gòn) chị cả tôi phải trích một khoản từ số tiền tiết kiệm ít ỏi của cả nhà mua cho tôi mang theo phòng mùa đông sắp tới. Chật vật chen lấn cùng với đám đông hành khách lỉnh kỉnh đồ đạc lên chiếc xe khách vừa nhỏ vừa cũ, từ bến xe ở phố Hàn Thuyên chạy cà rịch cà tang mấy tiếng đồng hồ mới đến được nơi tập kết sinh viên ở làng Sen hồ xã Lệ chi huyện Gia lâm ( cũ) Hà Nội.

Lớp sinh viên chúng tôi được nhập học vào khóa Một của Trường Đại học xây dựng vừa tách ra từ Trường Đại học bách khoa nên vẫn lấy phiên hiệu là “Khóa Mười Một” theo Đại học bách khoa. Tôi được phân công về lớp Cầu hầm, khoa Cầu đường nên ít hôm sau được đưa qua bến đò Chì sang bên kia sông Đuống là đến nơi ở tại làng Chì (còn gọi là làng Vũ Dương). Sau đó cứ hai người được về ở trong một nhà dân. Tất cả đều quá lạ lẫm đối với những thanh niên tuổi 16, 17, có người mới lần đầu xa nhà. Chào hỏi, làm quen với bác chủ nhà và mọi người trong gia đình xong là trời vừa chạng vạng tối. Chúng tôi bắt đầu gia nhập trường Đại học thời chiến – Đại học giữa làng quê kể từ hôm ấy. Năm năm tuổi trẻ của chúng tôi đã trôi qua đầy ý nghĩa với nhiều kỷ niệm nơi đây, dưới mái trường Đại học thời chiến giữa làng quê Kinh Bắc bên bờ sông Đuống xinh đẹp, trong tình thương yêu đùm bọc của bà con. Những chuyện tôi kể sau đây là một phần ký ức sâu lắng đã bị che mờ bởi lớp bụi thời gian trên dưới 60 năm, chỉ cần phủi nhẹ là đã hiện lên sáng rõ như mới hôm qua.
1 – Chuyện ăn
Những ngày đầu nhập học chúng tôi ai cũng phải tham gia xây dựng bếp ăn, lớp học và được chỉ dẫn cách hòa nhập với cuộc sống của bà con, thôn xóm, nôm na là học làm “công tác dân vận”. Mọi công trình nhà cửa đều được làm từ tranh tre, nứa lá. Tường vách xung quanh lớp học được che chắn bao quanh thêm bởi lớp tường đắp đất sét cao ngang ngực để tránh bị sát thương khi máy bay Mỹ ném bom bi. Phía trên không có cửa sổ mà để trống lấy ánh sáng tự nhiên.
Bếp ăn dùng chung cho sinh viên hai lớp Cầu hầm và Cầu đường sắt tổng số hơn trăm người. Mọi thứ cơm, canh, thức ăn đều được nấu bằng chảo gang to đường kính khoảng một mét đặt trên hai chiếc lò than. Cơm được chia thành từng mâm, mỗi mâm 6 người. Bữa nào cũng có rổ rau luộc to đùng hoặc món “canh toàn quốc” – loại canh “chạy qua hàng rau”, nấu chủ yếu bằng nước lã và muối thỉnh thoảng mới thấy có váng mỡ. Món mặn thì nhà bếp phải vắt óc xoay xở để bữa nào cũng có một tý: hôm thì đậu kho, thịt kho mua bằng tem phiếu, hôm thì con cá con tôm mua ngoài chợ. Ít nhất thì cũng có bát lạc rang tẩm nước muối hay lạc giã dập trưng muối ăn vừa mặn vừa bùi.
Sinh viên tự túc bát, đũa hoặc thìa mang đến bếp ăn. Nồi cơm lúc nào cũng ít so với “tuổi mười bảy bẻ gãy sừng trâu” đang sức ăn sức lớn. Mọi người cứ đến đủ 6 người là vào mâm. Vừa ăn vừa nhìn nhau để sao cho mình không ăn quá vào phần của bạn. Bụng lúc nào cũng đói nên đến giờ quy định là mọi người đã tề tựu đông đủ, ăn một loáng đã xong bữa. Ấm bụng rồi, mặt trời chưa lặn lại rủ nhau ra tụ tập ở sân kho hợp tác hay sân chợ Chì sinh hoạt “ngoại khóa” văn nghệ, thể thao.
Còn nhớ khoảng 2 tháng đầu nhập học chúng tôi phải ăn một loại cơm đặc biệt nấu từ “gạo xăng”. Đây là số gạo chiếc xe tải chở về chẳng may bị lật đổ trên đường đê gần làng. Xăng dò rỉ ngấm vào gạo mang về nhà bếp đem ra phơi phóng thế nào vẫn không hết mùi. Gạo thì đã định mức theo tiêu chuẩn mỗi người mười ba kg một tháng không có dự phòng phát sinh nào khác. Thế là nhà bếp phải vận dụng nhiều biện pháp “kỹ thuật tiên tiến” như vo gạo thật kỹ, lúc nấu mở vung cho bay mùi xăng nhiều nhất có thể. Còn lại bao nhiêu thì sinh viên chúng tôi vừa quyết tâm vượt khó vừa ăn. Đếm từng ngày rồi cũng đến lúc anh quản lý vui mừng thông báo: “Còn một bữa gạo xăng hôm nay, từ mai được ăn gạo bình thường!”. Cả bếp vui mừng reo lên tán thưởng!
Kể ra thì còn vô số chuyện về bữa ăn thời ấy nghèo nàn, đạm bạc, cơ bản vẫn là thường xuyên thiếu ăn, thiếu dinh dưỡng. Nhưng lúc ấy là thời chiến, cả nước mọi người đều kham khổ như nhau. Sống giữa lòng dân chúng tôi thấy vẫn còn là may mắn vì hàng ngày vẫn đủ hai bữa, không như nhiều gia đình khó khăn có lúc phải rau cháo thay cơm. Đói triền miên nên thỉnh thoảng các bạn lại tụ tập từng nhóm rủ nhau ăn tươi theo đủ cách. Nếu tích cóp dành dụm được mấy đồng học bổng còn dư thì sáng chủ nhật thỉnh thoảng lại rủ nhau đi bộ hơn năm cây số lên cửa hàng ăn Phố Mới (giờ là Thị trấn của huyện Quế Võ – Bắc Ninh) ăn mì không người lái hai hào một bát. Hôm nào may thì được ăn mì có thịt lợn muối (mỳ có người lái) ba hào một bát. Đến nơi mỗi người phải mua luôn một lúc vài ba bát bầy la liệt trên mặt bàn ăn dần vì nếu chậm người khác mua hết hàng.
Tuy ăn uống kham khổ như vậy nhưng hàng ngày nhà bếp vẫn tích trữ nước vo gạo, cọng rau thừa và ít cám bã mua thêm để nấu nồi cám nuôi một hai con lợn dành đến cuối học kỳ hay hết năm học liên hoan bếp ăn. Những ngày ấy được ăn tươi: món lòng, món thịt, món canh xương hầm khoai v.v… thịnh soạn. Tất cả đều được chế biến từ “con lợn tập thể”. Có lần tôi được cắt cử vào nhóm “hậu cần”. Nửa đêm hôm trước trời rét căm căm đã phải tập trung ngoài bếp để chuẩn bị “ngả lợn” cho kịp làm cỗ sáng hôm sau. Thỉnh thoảng mọi người nhấp nhỏm chạy vào ngó cái chuồng tối om làm chú lợn giật mình thức giấc chạy bổ ra ngoài. Thế là suốt đêm phải rượt đuổi đón đầu, săn bắt với nhiều pha gay cấn, nguy hiểm. Có anh vác gậy đập hụt lợn ngã bổ nhào xuống ao ướt hết quần áo. Cả nhóm phải tạm nghỉ chờ bạn vào hong khô quần áo cho đến lúc mặc được lại tiếp tục cuộc chiến săn bắt. Mãi đến tờ mờ sáng, khi cả người cả lợn đều mệt lả thì cuộc rượt đuổi mới kết thúc. Cỗ bàn vẫn kịp cho bữa ăn trưa. Những người tham gia trực tiếp như tôi ngoài bữa ăn tươi còn được lãi thêm một “đêm bão tố” nhớ đời.
Gian khổ như vậy mà sau năm năm học chúng tôi ai cũng vẫn lớn phổng lên. Lúc khám sức khỏe nhập học cân nặng chỉ hơn bốn mươi cân. Vậy mà lúc học xong lên được hơn năm mươi cân. Trung bình mỗi năm lên gần hai “cân hơi”, thế là lãi rồi!
2 – Chuyện học
Năm năm đại học 1966 – 1971 của chúng tôi trôi đi giữa một làng quê yên bình bên bờ sông Đuống. Nếu thỉnh thoảng không phải chui xuống “hầm chữ A” trú ẩn mỗi khi máy bay Mỹ gầm rít ngang bầu trời, tiếp theo là tiếng bom rơi từng loạt và đạn pháo phòng không từ các trận địa pháo của ta ở gần đó làm rung chuyển cả bầu trời, mặt đất thì cuộc sống cứ vậy êm đềm trôi. Hàng ngày chúng tôi nhịn đói lên lớp học từ sáng sớm. Chương trình đại học chính qui đầy đủ các môn từ cơ bản (toán giải tích, lý, hóa đại cương, hình học họa hình v.v…) đến cơ sở (cơ học lý thuyết, sức bền vật liệu, cơ học kết cấu, thủy văn, thủy lực, v.v…) rồi chuyên môn (cầu bê tông, cầu thép, cầu gỗ, đường bộ, đường sắt v.v…). Cộng thêm các môn chính trị, triết học, lịch sử Đảng,… tổng cộng năm năm là trên 40 môn học, trên 40 lần đi thi chủ yếu là thi vấn đáp và làm khoảng mươi đồ án môn học. Hết năm thứ hai đi thực tập công nhân. Hết năm thứ tư đi thực tập kỹ sư. Cuối năm thứ năm làm đồ án tốt nghiệp. Đại học thời chiến nhưng chương trình đầy đủ, chặt chẽ, nghiêm túc y hệt chương trình đào tạo các khóa đại học chính quy từ những năm trước đó.
Thế hệ chúng tôi may mắn được toàn các thầy giỏi, mẫu mực, đức độ, nhiệt tình dạy bảo, truyền đạt kiến thức từ cơ bản đến chuyên môn. Chỉ cần chăm chỉ, tập trung lắng nghe các thày cô giảng bài trên lớp là đã cơ bản tiếp thu được những nội dung cốt lõi của bài giảng. Còn những gì vướng mắc thì sau giờ học tiếp tục hỏi thầy hoặc các bạn tự tổ chức trao đổi, “phụ đạo” cho nhau theo nhóm tự giác. Chiếu tối ở nhà loay hoay tự học, tự làm bài tập là đã hết thời gian. Mỗi ngày trôi đi một cách tích cực. Các bạn quan tâm giúp nhau để ai cũng có thể theo kịp chương trình, không bị hẫng hụt. Cũng may là thời chiến ở nông thôn nghèo lúc ấy không có gì mà ăn mà chơi nên cuộc sống đơn giản, ai cũng tập trung vào việc học và sống sao cho tốt. Thật sự là gần như chẳng có điều gì đủ sức hấp dẫn, lôi kéo mọi người vào những ý nghĩ xấu, hành động xấu.
Hè năm 1968, lớp tôi đi thực tập công nhân ở công trường khôi phục cầu Long Biên – Hà Nội. Cả lớp ở trong dãy nhà ba tầng của khu tập thể nhà máy xe lửa Gia Lâm vắng tanh, vắng ngắt vì lúc đó công nhân đi sơ tán hết. Lúc này đang là thời điểm đế quốc Mỹ leo thang, ném bom miền Bắc. Cầu Long Biên là một trong những trọng điểm đánh phá ác liệt nhất. Chúng tôi được phân công về các tổ công nhân làm nhiệm vụ cứu chữa đảm bảo giao thông.
Mỗi người được cấp phát một bộ quần áo và đôi giày như mọi công nhân làm việc trên công trường. Sáng ra tập trung họp giao ban nghe lãnh đạo phổ biến công việc trong ngày xong ai vào việc nấy. Thời gian đầu thấy máy bay gầm rít, bom rơi đạn nổ cũng hơi sợ. Sau cứ làm theo lệnh của chỉ huy cũng quen dần. Khi nào thành phố nổi còi báo động là rút quân vào bờ tìm chỗ trú ẩn. Còi báo an vang lên là lại trở về với công việc của mình. Nhóm tôi làm trong tổ kích kéo chuyên vận chuyển ray, tà vẹt và đá hộc trên những chiếc xe goòng đẩy tay từ bờ ra ngoài cầu. Có lần một bạn mải theo xe chở đá hộc để chống xói chân trụ cầu chẳng may trượt chân rơi từ mặt cầu xuống sông chênh cao hơn chục mét. May sao không bị rơi vào chướng ngại vật cứng nào bên dưới và bạn ấy lại bơi giỏi nên cả công trường thót tim theo dõi từng sải bơi cho đến lúc đón được bạn lên bờ.
Từ năm học thứ ba chúng tôi bắt đầu phải làm đồ án môn học chuyên môn. Những bản tính rắc rối lúc đó đều được thực hiện bằng cách tính tay hoặc thước tính rút tay logarit. Giấy vẽ cực hiếm, chỉ được phát vừa đủ cho số lượng bản vẽ theo yêu cầu. Các bạn phải chờ, mượn nhau từng chiếc ê ke nhựa hoặc gỗ hiếm hoi để cặm cụi lên hình từng bản vẽ dưới ánh đèn dầu leo lét được che chắn khéo léo sao cho ánh sáng không ảnh hưởng đến giấc ngủ của gia chủ. Nhiều hôm mải tập trung tính, vẽ đến lúc trời sập tối mò ra nhà ăn thì cơm đã hết. Tôi đành vòng ra chợ Chì vét túi còn một đồng gõ cửa hàng quà mua được năm chiếc bánh bột rán nhân khoai lang trên đường về vừa đi vừa nhai đến cái cuối cùng mới phát hiện ra nhân bánh có mùi thiu đành vứt vội xuống ao cho cá ăn. May sao đêm mệt vẫn ngủ ngon không bị đi ngoài.
Hè năm 1970 lớp Cầu hầm đi thực tập kỹ sư ở công trường xây dựng cầu Phú Lương trên Quốc lộ 5. Lúc đó cầu được thiết kế khôi phục sau khi Mỹ ném bom phá sập. Cây cầu được sử dụng cho đường sắt và đường bộ đi chung trên mặt cầu gỗ. Các nhịp cầu là dàn thép bán vĩnh cửu VN-64 do Trung Quốc viện trợ, mỗi nhịp dài khoảng 45m. Sinh viên được phân chia theo từng nhóm về phòng kỹ thuật hay về các đội thi công theo dõi quản lý kỹ thuật trên công trường. Các kỹ sư tốt nghiệp dăm khóa trước là những thần tượng của chúng tôi. Các anh ấy vừa giỏi về chuyên môn, vừa có bản lĩnh vững vàng khi giải quyết các vấn đề khúc mắc về kỹ thuật làm cho chúng tôi rất khâm phục. Ai cũng thầm ước sau này mình cũng có thể xử lý các công việc chuyên môn đơn giản, dễ dàng như các anh đi trước!
Lúc đó nước ta mới nhập được một chiếc máy tính điện tử đầu tiên ký hiệu Minsk-22 từ Liên Xô. Đây là thiết bị tính toán hiện đại nhất thời đó. Thực ra thì công năng của nó chỉ gấp vài lần chiếc máy tính đề bàn bây giờ nhưng lúc đó thực sự là một tài sản quý báu quốc gia. Nó có kích thước khá cồng kềnh, gồm hàng vài chục chiếc tủ đèn thiết bị điện tử to gần bằng cái tủ áo hai buồng nên được đặt trong vài giàn phòng rộng hàng trăm mét vuông dưới tầng hầm của Ủy ban khoa học kỹ thuật nhà nước, số 39 Trần Hưng Đạo. Bộ môn Cầu hầm trường Đại học Xây dựng có nhiều thầy giáo giỏi tốt nghiệp Phó Tiến sỹ ở Liên Xô là những người đủ điều kiện khai thác, sử dụng máy tính để nghiên cứu khoa học, phục vụ sản xuất. Các thầy chọn một số học sinh trong lớp giao các chuyên đề nghiên cứu có yêu cầu lập chương trình phần mềm trên máy tính điện tử. Những bạn được chọn đều phải làm bản “trích ngang” gửi đơn vị quản lý để được phát thẻ và đăng ký giờ vào làm việc trong phòng máy. Tôi may mắn là một trong số những sinh viên được chọn và cũng bởi vậy, thực tế là từ năm học cuối tôi đã được các thày hướng dẫn làm chuyên đề nghiên cứu chuẩn bị cho việc nhận và làm chuyên đề tốt nghiệp sau này.
Giữa năm 1971 trường Đại học Xây dựng chuyển về địa điểm xây dựng mới tại Hương Canh – Vĩnh Phúc. Đó cũng là lúc chúng tôi nhận đề làm đồ án tốt nghiệp. Nhóm “chuyên đề” chúng tôi được làm tốt nghiệp ở Hà Nội do có nhiều việc phải làm trên máy tính. Sau ba tháng hoàn thành chuyên đề, nhóm hội tụ đủ ba mươi chín anh em còn lại của lớp cầu hầm Khóa Mười Một ở Hương Canh – Vĩnh Phúc để bảo vệ đồ án tốt nghiệp, kết thúc năm năm Đại học thời chiến giữa làng quê! Giờ đây, chúng tôi đã là các kỹ sư trẻ, tuy chưa có kinh nghiệm nhưng đã sẵn sàng hành trang bước vào sự nghiệp khai thông – mở đường.
3 – Chuyện chơi
Lớp chúng tôi nhập trường năm 1966 chủ yếu là những người sinh vào những năm cuối 4X. Trong lớp hồi đó có gần chục anh lớn tuổi là cán bộ cử đi học thường giữ các trọng trách như bí thư chi bộ, lớp trưởng v.v… còn việc chơi chủ yếu là do các anh em trẻ nghĩ ra và “chủ trì”.
Lúc đó có hai dòng nhạc chi phối chúng tôi là nhạc cách mạng (nhạc đỏ, giải phóng miền nam) và nhạc trữ tình của Liên Xô. Cứ mỗi buổi chiều khi hoàng hôn xuống, mặt trời lặn để lại bầu trời ngả dần sang màu tím chúng tôi tụ tập ngoài sân kho hợp tác cùng nhau mải mê hát các bài ca từ Giải phóng miền nam, Thời thanh niên sôi nổi đến Cây Thùy dương v.v… cho đến khi trên bầu trời đã hiện lên lấp lánh ánh sao hôm mới giải tán ai về nhà nấy. Nhóm ưa hoạt động thì rủ nhau chia đội đá bóng trên sân vận động chợ Chì đất đá mấp mô. Cứ thế “độc diễn” mãi cũng chán, chúng tôi nghĩ ra cách một năm vài ba lần tổ chức liên hoan tạp kỹ, biểu diễn trên sân khấu ngoài trời không loa, không trang âm dưới ánh sáng của nhiều nhất là hai ngọn đèn “măng xông”. Những buổi biểu diễn như thế thường do các diễn viên “không chuyên” từ cả hai lớp cầu hầm và cầu đường sắt tham gia. Đủ các loại hình nghệ thuật được trình bày từ ca nhạc đến kịch nói, chèo, ảo thuật, v.v… Các diễn viên khản cổ hò hét trước đám đông khán giả là bà con trong làng và cả những làng lân cận đến từ lúc chạng vạng tối ngồi kín phía trước. Đến khuya chương trình kết thúc trong sự nuối tiếc ra về của bà con, còn “đoàn văn công chợ Chì” chúng tôi thường tập trung ở nhà bếp để tự thưởng nồi cháo gà cho “buổi biểu diễn thành công rực rỡ”.
Một trong những môn thể thao bắt buộc đối với sinh viên lúc đó là phải học bơi và biết bơi. Lý thuyết thì thầy dạy trên sân hợp tác, thực hành thì ra sông Đuống. Bảo đảm an toàn bằng hai biện pháp chính: chỉ được bơi dọc ven bờ trên đoạn sông đã được “khảo sát” kỹ, không bị xói lở và nếu có gì thì đã có những người bạn bơi giỏi sẵn sàng ứng cứu. Từ nhỏ tôi ở thành phố chưa xuống nước bao giờ nên học mãi vẫn chưa nổi được. Các bạn thương tình cứ chiều đến lại đưa ra “bể bơi sông Đuống” để phụ đạo. Ngay buổi đầu tiên tôi đã được hướng dẫn theo phương pháp “trực tiếp”, nghĩa là đang đứng gần bờ thì các bạn bất ngờ đẩy mạnh ra phía sông. Chơi vơi, quờ quạng một lúc chân vẫn chưa chạm đáy đành khua loạn tay chân, sắp sặc nước thì được đẩy vào bờ, tiếp đất. Các “thầy” nhận xét: “Vừa rồi đã có kết quả tốt, bơi được một đoạn rồi! Bước đầu đã quen và bớt sợ nước, giờ thì sẽ dễ dàng hơn”. Quả thật sau đó chỉ thêm vài buổi là tôi đã nổi được trên mặt nước và ít lâu sau thì biết bơi. Đến giờ tôi vẫn nhớ như in khung cảnh tuyệt vời giữa đêm trăng sáng mùa nước cạn được các bạn cho ôm thân cây chuối và hộ tống cùng nhau bơi ra bãi giữa sông. Ánh trăng vàng lấp lánh trải trên mặt nước nhẹ trôi lăn tăn gợn sóng thật tuyệt diệu làm quên cả nỗi sợ dù sao mình cũng chỉ mới biết bơi mà đã dám “vượt sông”!
4 – Bà Thông
Lúc mới về làng Chì, tôi và anh Nguyễn Thanh Hồng – Bí thư chi bộ, cán bộ cử đi học được phân về ở nhà ông Châu. Gia đình ông khá giả, bà Châu giỏi buôn bán chợ búa. Ông bà xây được ngôi nhà gạch một tầng trên mảnh vườn rộng nhiều cây cối gọn gàng, đẹp mắt. Chúng tôi được ông bà quý mến, cứ mỗi lần nhà có giỗ lại giục cắt cơm nhà ăn về ăn cơm gia đình. Nhà đông con, mỗi người một tay nên chúng tôi cũng đỡ phải làm việc nhà. Bà Châu bảo cứ yên tâm tập trung vào việc học cũng đã đủ vất vả rồi!
Được khoảng một năm lớp tôi sắp xếp lại theo tổ chức. Tôi được đưa về tổ mới nên phải chuyển xuống xóm dưới ở nhà Bà Thông cùng với anh Trần Văn Ân – Bí thư chi đoàn. Ngôi nhà của Bà Thông là nhà tranh vách đất, có ba gian nền đất nện. Bà chỉ có bốn người con gái lớn đã có gia đình quanh làng nên giờ chỉ có người cháu ngoại chừng hơn mười tuổi ở cùng, thêm hai chúng tôi nữa là thành nhà bốn người. Em là con trai nhưng bố mẹ đặt cho cái tên Duyên nên lúc nào cũng hay cười.
Nhà cửa chỉ có vậy Bà dành cho chúng tôi một gian riêng đầu nhà kê đủ chiếc giường tre và một cái bàn học nhỏ, lấy giường làm ghế. Bà ở gian bên kia sát cái trái nhỏ vẩy ra cạnh đầu hồi làm buồng kho. Còn em Duyên – cháu trai của bà nằm trên cái chõng tre ở gian giữa ngay trước cái thùng gỗ mộc dưới đựng gạo, trên làm bàn thờ.
Thấy cảnh nhà neo đơn, chúng tôi bảo nhau phải chủ động làm mọi việc đỡ đần cho Bà. Từ việc gánh nước ở cái giếng đất cuối làng về đổ đầy bể nhỏ xây không nắp ngoài vườn đến việc xay lúa, giã gạo cùng với Bà hay em Duyên. Thấy chúng tôi không nề hà ngại việc lâu dần Bà coi như con cháu trong nhà. Mùa đông đến, bà bảo mấy anh em rút đống rơm khô sắp phẳng phiu bện thành hai chiếc đệm rơm trải lên mặt giường nằm cho đỡ rét. Thỉnh thoảng Bà lại để cho mấy củ khoai lang luộc trong rổ lúc nào đói bụng ăn đỡ.
Ở nhà bà mấy năm tôi chưa thấy bà nổi nóng hay nặng lời bao giờ. Những bữa ăn đạm bạc cơm độn ngô, khoai với rau luộc, cua muối hàng ngày nhiều khi làm chúng tôi đến giờ mang bát đi ăn cũng thấy ái ngại, lặng lẽ đi rồi lại lặng lẽ về.
Vui nhất là mỗi khi nhóm tôi vài người tổ chức ăn tươi ở nhà. Hôm thì nấu mỳ cua, hôm thì bánh đa canh cá rô đồng. Có hôm tôi và một bạn được cử đèo nhau hơn bốn mươi km về Hà Nội từ chiều hôm trước, hôm sau xin gạo ở nhà đổi bún mậu dịch xong lại đạp xe ngược về đến nơi trời đã tối mịt tối mù. Hai bà cháu và nhóm bạn vẫn kiên trì nhịn đói ngồi chờ bên nồi canh riêu cua vàng óng đặt trên bếp củi lom dom. Bát bún Hà Nội ăn với riêu cua chợ Chì thơm phức, nuốt vào đến đâu biết đến đó. Bà cháu, anh em nhìn nhau mãn nguyện. Lúc đó không có điện thoại di động như bây giờ nên người đi cứ biết phải đi, người chờ cứ biết phải chờ, lúc nào về đến nơi là khắc biết!
Đầu năm 1971 theo nguyện vọng của em Duyên tôi mượn được cái xe đạp chiều thứ bảy đèo em về thăm nhà và tiện thể đi chơi Hà Nội. Lần đầu tiên nó biết thế nào là phố phường toàn nhà xây to một hai tầng, biết hồ Hoàn Kiếm, biết Tháp Rùa và không hiểu ở Thủ đô sao nhà ai cũng lát gạch đá hoa bóng lộn đẹp thế!
Làng Chì, Bà Thông và bà con thôn xóm đã cưu mang, đùm bọc chúng tôi, góp phần “ươm mầm tri thức” suốt những năm chiến tranh ác liệt. Sau năm năm khi rời khỏi nơi đây chúng tôi đều đã trở thành “con nhà nông” thực thụ. Từ nơi đây, mang theo hình ảnh làng quê nghèo bình dị với những người dân chất phác, chân thật, đầy tỉnh cảm yêu thương lấp đầy trong hành trang của mỗi người.
5 – Trở về chốn xưa
Tháng 12 năm 2022 mấy anh em trong nhóm biên soạn kỷ yếu “Lớp Cầu hầm Khóa Mười Một – Đại học Xây dựng” rủ nhau về thăm làng Chì vừa để lấy tư liệu, vừa để cùng nhau ôn lại những kỷ niệm một thời trên suốt dọc đường đi.
Thực ra từ sau năm 1971 tôi cũng có vài lần về làng Chì. Lần này đi cùng các bạn cũ, thời gian ít nên chúng tôi thống nhất chỉ tập trung đến những nơi ghi dấu nhiều kỷ niệm chung năm xưa.
Hành trình bắt đầu từ làng Bồng Lai – nơi ban chủ nhiệm và các thầy trong khoa cầu đường ở thời đó. Anh Thảo – sinh viên duy nhất lúc ấy được “ăn cơm nhà” vì quê nhà ở ngay trong thôn đón chúng tôi và đưa đến từng nơi anh đã dành thời gian đi “tiền trạm” từ hôm trước. Xe qua chiếc cầu “Tình nghĩa” bằng bê tông cốt thép rộng 4m bắc qua sông Tào Khê nối từ thôn Bồng Lai sang thôn Vũ Dương (làng Chì). Chiếc cầu này do các thầy và sinh viên Khoa Cầu đường thiết kế và xây dựng tặng bà con trong xã trước khi rời nơi đây về Hương Canh. Qua cầu một quãng là đến cuối làng Chì. Chúng tôi dừng lại bên cái giếng đất giờ chắc không còn ai dùng nữa vì nhà nào giờ cũng có nước máy. Bà con xây ngôi miếu nhỏ bên góc và dựng lan can bằng thép bảo vệ quanh giếng. Từ đây về nhà bà Thông – nơi tôi ở năm xưa – chỉ khoảng ba trăm mét. Thời ấy cứ cuối tuần chúng tôi thường rủ nhau ra giếng lấy nước lên bãi cỏ xa bờ tắm gội kể cả những ngày đông giá rét. Giờ thì xung quanh đã chen kín nhà xây mới hai tầng.
Theo con đường trục dọc giữa làng trước là đường đất giờ đã là đường bê tông xe chạy thoải mái, đoàn đến nơi trước đây là lớp học dã chiến gần nhà cụ Bằng. Giờ chỉ còn cháu của cụ sống trong ngôi nhà xây khang trang trên nền lớp học cũ. Nhớ năm xưa hàng ngày ngồi trong lớp học đơn sơ nghiên cứu các bài giảng từ tích phân, vi phân đến các môn học cầu thép, cầu bê tông.v.v.. Trong tâm trí tôi bỗng hiện về hình ảnh lúc cô giáo môn lịch sử Đảng lên lớp giảng “Bài học về nông dân” thì ngoài sân cụ Bằng cầm cây gậy vừa gẩy rơm phơi trên nền sân đất nắng vàng ươm ngày mùa vừa nghển cổ vào lớp học lắng nghe với vẻ mặt không hiểu vì sao các em sinh viên lại phải học cả những bài học về nông dân mình!
Rời lớp học chúng tôi đi theo con đường bê tông chạy dọc ven làng. Trước kia đây là đường đất một bên là ruộng và bãi tha ma, một bên là lũy tre xanh bọc quanh làng. Giờ thì bãi tha ma với những nấm mồ đất lụp xụp năm xưa đã được xây cất thành những khu mộ khang trang, lũy tre xanh dọc bên đường thì không còn nữa. Ký ức lại hiện về trong tôi những đêm tối trời bà Thông ở đâu hớt hải chạy về kêu ra ruộng xem ma. Bà chỉ vào bóng đen ẩn hiện với đốm sáng lom đom nhảy nhót dưới ruộng gọi thế nào cũng không thưa, vậy đích thực đó là ma rồi còn gì! Tuy cũng hơi run nhưng tôi cũng vơ hòn đất ném về phía đốm lửa thì bóng đen nhảy chồm lên la hét. Thì ra đó là ông cụ điếc đầu làng thắp đuốc đi soi ếch! Bà cháu kéo nhau về, đêm ấy chắc bà Thông được giấc ngủ ngon.
Đến giữa làng xe rẽ vào đường ngang về khu bếp ăn cũ. Giờ nơi đây là ngôi nhà xây hai tầng của anh Tờ – cháu nội cụ chủ trước đây. Anh Tờ chỉ cho chúng tôi vị trí nhà ăn và bếp lò than, chuồng lợn cũ. Lại nhớ về những ngày gian khổ mỗi bữa được phát một cái “bánh đấm” bột mì không bột nở to bằng bàn tay vừa dẹt vừa cứng ngắc. Hôm nào ăn “bánh đấm” là mọi người không phải mang bát, chỉ cần một chiếc thìa múc chung nồi canh rau là xong bữa. Tôi bỗng nhớ và hỏi anh Vay – lớp phó, quản lý bếp ăn về những miếng cháy cơm sát đáy chảo vàng ươm, giòn tan rất hiếm hoi mới được ăn một mẩu. Thì ra lúc đầu nhà bếp có chia đều cho các mâm, sau anh em ra sớm đói bụng mỗi người bốc một miếng hết veo, nhà bếp đành giải thích với những người ra ăn muộn “Hôm nay cháy đen quá lửa không chia, để nấu cám lợn!”.
Sau khi chụp ảnh kỷ niệm với anh Tờ trên khuôn viên bếp ăn xưa chúng tôi về thăm sân kho hợp tác, nơi trước đây mỗi buổi chiều vừa là sân đá bóng vừa là phòng luyện giọng của mọi người. Trên thửa đất rộng mênh mông ngày ấy giờ là tổ hợp ba công trình hoành tráng: đình làng, trạm y tế và trường mẫu giáo. Phía trước ba công trình là khoảng sân rộng lát gạch nung đỏ au. Đình làng được xây khang trang có tường rào xây và cổng sắt hoành tráng phía trước. Ở lối vào trạm y tế bà con trồng một cây đa chắc cũng được vài ba chục năm nay xanh tốt xum xuê. Trò chuyện thân tình với mấy anh xe ôm ngồi quán nước dưới gốc đa, biết chúng tôi – những ông già U80 – về thăm chốn cũ các anh cảm động vì toàn hỏi thăm, nói những chuyện liên quan đến lớp Ông Bà mình, giờ nhiều người đã “khuất núi”.
Chợ Chì trước nay vẫn ở chỗ cũ đầu làng, ven đê sông Đuống. Những dãy hàng quán trước lụp xụp nay được sắp xếp ngay ngắn trong dãy nhà lợp ngói. Đường đi lối lại được thảm bê tông không còn cảnh mưa xuống là lại phải lội bùn lấm láp. Lên bờ đê nhìn ra sông Đuống tìm về bãi tắm ven sông và bãi giữa năm xưa. Hình như bãi nổi gữa sông đã bị xói mòn, thu nhỏ lại còn phía sát đê bãi sông được bồi rộng nay thành nơi tập kết cát, đá, vật liệu xây dựng để từ đây phân phối đi các nơi. Dòng sông Đuống nhánh bên trái dường như thu nhỏ lại khác xưa. Vừa buồn, vừa vui nghĩ đến cảnh cũ giờ đã thay đổi quá nhiều, chẳng trách hơn nửa thế kỷ đã trôi qua và nay chúng tôi đã trở thành các cụ U80. Trước giờ xuất phát chuyến đi từ Hà Nội có hai cụ huyết áp lên đột xuất phải bỏ cuộc nên đoàn năm người chỉ còn có ba.
Vậy là hôm ấy chúng tôi – những người may mắn và hạnh phúc – đã được cùng nhau lội ngược dòng thời gian tìm về quá khứ để sống lại tuổi thanh niên sôi nổi và đầy gian khó năm xưa. Cảnh vật đổi mới đến không thể nhận ra hình ảnh quê nghèo với những con người lam lũ hơn nửa thế kỷ trước nhưng dấu tích những kỷ vật năm xưa cùng với sự hợp lực của ba bộ óc đã đưa chúng tôi trở về quá khứ dường như còn nguyên vẹn./.
Tác giả: Nguyễn Ngọc Long, Sinh viên lớp Cầu Hầm K11(1966-1971)




















